• LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG QUẢNG TRỊ sau hiệp định Giơnevơ 1954

    Ở phần 1 và 2 chúng ta đã tìm hiểu về lịch sử địa phương Quảng Trị giai đoạn 1930-1945 và lịch sử tỉnh Quảng Trị 1945-1954, trong bài này sẽ giới thiệu khái quát lịch sử địa phương Quảng Trị 1954-1975 - tình hình giai đoạn lịch sử tỉnh Quảng Trị sau hiệp định Giơ-ne-vơ.

    Ngày đăng: 22-09-2019

    616 lượt xem

    A. LỊCH SỬ QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 7-1954 ĐẾN CUỐI NĂM 1968

     
        Ở phần 1 và 2 chúng ta đã tìm hiểu về lịch sử địa phương Quảng Trị giai đoạn 1930-1945 và lịch sử tỉnh Quảng Trị 1945-1954, trong bài này sẽ giới thiệu khái quát lịch sử địa phương Quảng Trị 1954-1975 - tình hình giai đoạn lịch sử tỉnh Quảng Trị sau hiệp định Giơ-ne-vơ. 
     
     
     

    1. Tình hình Quảng Trị sau hiệp định Giơnevơ

     
         Tháng 7-1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ. Thực hiện Hiệp định, nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền: Bắc, Nam. Tỉnh Quảng Trị tạm thời chia làm hai khu vực: Khu vực Vĩnh Linh ở phía Bắc sông Bến Hái (vĩ tuyến 17) được hoàn toàn giải phóng, cùng các tỉnh, thành phố ở miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; khu vực Quảng Trị ở bờ nam sông Bến Hải cùng các tỉnh, thành phố ở phía Nam vĩ tuyến 17, trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, tiếp tục làm cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân.
     
         Sau chuyên quân tập kết, Quảng Trị trở thành vùng địch kiểm soát, nhân dân Quảng Trị chuyên sang đấu tranh chính trị và hoạt động bí mật.
     
         Với vị trí đầu cầu giới tuyến, Mỹ và tay sai tập trung lực lượng và phương tiện hiện đại, xây dựng phòng tuyến mạnh và bộ máy ngụy quyền đắc lực, ra sức đánh phá cơ sở cách mạng. Trước sự đánh phá điên cuồng của kẻ địch nhân dân Quảng Trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Quảng Trị không nao núng, liên tiếp đấu tranh chống “ tố cộng, diệt cộng”, đòi cải thiện “dân sinh, dân chủ”, đòi “hiệp thương Tổng tuyển cử”, chống địch dời làng, chống khủng bố trắng diễn ra liên tiếp.
         Phong trào đấu tranh của nhân dân Quảng Trị càng lên cao, Mỹ và tay sai càng ra sức đánh phá quyết liệt với thủ đoạn tàn bạo“ giết lầm hơn bỏ sót”... Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân các thôn, xã vùng giới tuyến bị đàn áp dã man. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị.
         Trong tình thế hiểm nghèo, Nghị quyết Tỉnh uỷ mở rộng tháng 10-1957 đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh. Phong trào cách mạng ở 5 huyện, thị đồng bằng dần dân hồi phục, phát triển. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hướng Hoá đẩy mạnh sản xuất lúa màu, vận động đồng bào trong các ấp chiến lược đấu tranh đòi trở về bản cũ sinh sống.
     

    2. Phong trào đồng khởi của nhân dân Quảng Trị

     
         Tiếp thu Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, từ cuối năm 1959, Tỉnh uỷ Quảng Trị chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, phục hồi và mở rộng căn cứ địa miền núi, nắm vững thời cơ phát động “đồng khởi” miến núi Hướng Hoá.
     
          Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, cuối năm 1960, nhân dân các xã phía Nam huyện Hướng Hoá đã đồng loạt nổi dậy khởi nghĩa. Chỉ trong một thời gian ngắn, một vùng rộng lớn miền núi của tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Hướng Hoá trở thành hậu phương vững chắc, hành lang chiến lược của cuộc kháng chiến, chỉ viện kịp thời cho đồng bằng đánh Mỹ.
     
         Ngày 21-4-1964, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng tại Ro Ró( Xuồi Muồi)” quyết định phát động phong trào đồng khởi nông thôn, đồng bằng.
     
         Từ tháng 7-1964 đến 1-1965, quân và dân Quảng Trị đã nỗi dậy phá thế kìm kẹp của địch ở 236 ấp chiến lược. Vùng giải phóng được mở rộng từ Hướng Hoá đến vùng đồng bằng Triệu- Hải, Gio - Cam, chiếm khoảng 4/5 đất đai toàn tỉnh, với gần 13 vạn dân.
     
         Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã tạo ra thế liên hoàn giữa ba vùng: miền núi, giáp ranh, đồng bằng, nối liền vùng giải phóng Thừa Thiên, vùng giải phóng Hạ Lào, đặc biệt nối liền khu vực Vĩnh Linh- miền Bắc XHCN. Nông dân ở vùng giải phóng được chia lại ruộng đất càng hăng hái, phấn khởi theo Đảng, theo cách mạng; góp phân quan trọng làm phá sản chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

     

    3. Lịch sử địa phương Quảng Trị chống chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ

     
         Thất bại ngày càng nặng nề cả về quân sự và chính trị, Mỹ buộc phải chuyển sang "chiến lược chiến tranh cục bộ". Chúng đưa quân Mỹ vào miền Nam, tập trung lực lượng ra Quảng Trị, xây dựng ở Khe Sanh- Hướng Hoá thành một tập đoàn cứ điểm mạnh.
     
         Chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng quân dân Quảng Trị vẫn dũng cảm bám trụ chiến đấu đánh Mỹ với khí thế hào hùng, chủ động, kết hợp tiến công và phản công đánh bại các cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966)
     
          Đúng giao thừa 30 Tết (ngày 7-2-1968), Quảng Trị cùng toàn miền Nam đồng loạt nỗi dậy tiến công và các cơ quan đầu não của Mỹ ngụy. Tại mặt trận Khe Sanh, sau 170 ngày đêm tấn công vây hãm, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn quận ly Hướng Hoá. Thắng lợi ở Khe Sanh làm nức lòng nhân dân cá nước, được Hồ Chủ Tịch gửi thư khen ngợi.
     
         Thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 cùng với thắng lợi Đường 9- Khe Sanh làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, buộc chúng phái xuống thang chiến tranh, chấm dứt đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Paris.
     

    4. Vĩnh Linh khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ

     
    - Ngày 25-8-1954, Vĩnh Linh sạch bóng quân thù.
    - Ngày 28-5-1955, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng uỷ khu vực Vĩnh Linh trực thuộc Trung ương.
    - Sau ngày giải phóng, nhân dân Vĩnh Linh tiến hành khai hoang, phục hoá, khôi phục kinh tế; đón tiếp đồng bào, cán bộ, bộ đội miền Nam ra tập kết; bảo đảm trật tự an ninh của khu vực giới tuyến. Đến cuối năm 1960, khu vực Vĩnh Linh căn bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp; căn bản xoá bỏ chế độ bóc lột và bước đầu xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa, kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố an ninh, quốc phòng.
    - Triển khai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961-1965), Đáng bộ và nhân dân khu vực Vĩnh Linh không kể ngày đêm lao động sản xuất, nên các mặt kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục... nhất là quốc phòng và an ninh đều có bước phát triển mới; sẵn sàng ứng phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch.
    - Ngày 8-8-1964, máy bay Mỹ ném bom đánh phá đáo Côn Cỏ, từ đây Vĩnh Linh bước vào cuộc trường chinh mới vừa sản xuất vừa chiến đấu, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
     
    - Thất bại ở miền Nam, đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc. Vĩnh Linh là một tiêu điểm huỷ diệt của kẻ thù. Từ năm 1965-1968, đế quốc Mỹ liên tục đánh phá Vĩnh Linh, giết hại nhiều đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta, phá huỷ nhà cửa, đê điều... Với tinh thần:" Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì Quảng Trị thân yêu”, trong bom đạn ác liệt, quân dân Vĩnh Linh vẫn lạc quan, tin tưởng, kiên quyết bám trụ trong lòng đất đề chiến đấu, sản xuất và phục vụ chiến đấu. Đó là nguồn cổ vũ, động viên rất lớn đối với đồng bào miền Nam, với Quảng Trị thân yêu. Vĩnh Linh là tấm gương sáng cho quân và dân hai miền ra sức thi đua chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi.
     
    Vĩnh Linh xứng đáng được Bác Hồ khen tặng:
    "Đánh cho giặc Mỹ tan tành Năm châu khen ngợi Vĩnh Linh anh hùng"
     
     
    Câu hỏi:
    Kết quả, ý nghĩa lịch sử của phong trào đồng khởi ở Quảng Trị?
    Quân dân Quảng Trị chiến đấu chống chiến tranh cục bộ như thế nào?
    Em có biết Bác Hỗ đã gửi thư, điện khen ngợi quân, dân Vĩnh Linh mấy lân?
    Hãy nêu những thắng lợi của quân và dân Quảng Trị trong chống chiến lược " chiến tranh cục bộ" của Mỹ?
     

    B. LỊCH SỬ QUẢNG TRỊ GIAI ĐOẠN TỪ CUỐI NĂM 1968 ĐẾN 19-3-1975

     

    1. Quảng Trị chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Tiến công nỗi dậy giải phóng quê hương năm 1972

     
         Sau Tết Mậu Thân 1968, mặc dù phải xuống thang chiến tranh nhưng Mỹ vẫn không cam chịu thất bại, ra sức xây dựng quân ngụy, củng cố phòng tuyến Mác- na- ma - ra, mở các chiến dịch đánh phá đường mòn Hồ Chí Minh và hàng loạt cuộc phản kích, thực hiện “ bình định cấp tốc”, “quyết ngăn chặn từ xa” các hoạt động quân sự của ta.
     
         Trước những âm mưu thủ đoạn mới của địch, quân và dân Quảng Trị tiếp tục cùng cả nước vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, kiên quyết đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ.
     
         Năm 1970, phong trào cách mạng ở Quảng Trị đã bước sang giai đoạn phát triển mới, lực lượng ba thứ quân hoạt động rộng khắp trên ba vùng chiến lược, đánh địch ở khắp các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, Gio Linh. 
     
         Đầu năm 1971, khi Mỹ nguy mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra đường 9- Nam Lào, quân và dân Quảng Trị phối hợp chặt chẽ cùng bộ đội chủ lực đánh bại cuộc hành quân thử nghiệm chiến lược “ Việt Nam hoá chiến tranh”, làm cho quân nguy kinh hoàng, khiếp đám.
     
         Bước sang năm 1972, lực lượng quân ngụy ngày càng suy yếu, quân Mỹ lúng túng, bế tắc về chiến lược. Nhạy bén trước tình hình mới, Tỉnh uỷ Quảng Trị sớm đề ra chủ trương, gấp rút chuẩn bị thực lực cách mạng, chớp thời cơ, nổi dậy giải phóng quê hương.
     
         Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-3-1972, chiến dịch“ Tổng tiến công nỗi dậy năm 1972” bắt đầu. Pháo của ta từ nhiều hướng ở Vĩnh Linh, ở các trận địa miền Tây...bắn mãnh liệt vào các căn cứ điểm của địch. Toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở cửa ngõ phía Bắc “ vành đai thép”, “hàng rào điện tử Macnamara” đã bị xé toang.
     
         Trong lúc địch đang còn hoang mang, giao động thì ngày 27-4-1972, ta tắn công bước 2 bằng các trận pháo kích trùm lên các căn cứ phòng ngự và eo cụm của địch từ Đông Hà đến La Vang. Đúng 15 giờ 30 phút ngày 28/4/1972, ta giải phóng Đông Hà. 14 giờ ngày 1-5 quân ta hoàn toàn làm chủ Ái Tử.
     
         Ngày 1-5, các cánh quân chủ lực và lực lượng quân khu từ nhiều hướng tấn công giải phóng Thị xã Quảng Trị.
     
         Sau 1 tháng tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, ngày 1-5-1972 tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng.
     
         Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thể hiện sức mạnh đường lối chiến tranh nhân dân, tài thao lược, trí thông minh và sức sáng tạo của Đảng, tạo điều kiện cho chiến trường miền Nam tiếp tục tiến lên tiêu diệt kẻ thù.
     
         Ngày 1-5-1972 đã trở thành mốc son chói lọi, làm rạng rỡ thêm trang sử vẻ vang của dân tộc, niềm tự hào to lớn của quân và dân Quảng Trị cũng như đồng bào, đồng chí cả nước và bạn bè quốc tế.
     
    Em hãy nêu những mốc chính trong cuộc Tổng tiễn công và nồi dậy xuân năm 1972?
     
    Được Mỹ hà hơi tiếp sức, Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân “ tái chiếm Quảng Trị” lẫy tên là “ Lam Sơn 72”.
     
         Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt suốt 81 ngày đêm ( từ 28-6 đến 16-9), mặc dù địch đã tập trung một lực lượng lớn quân tinh nhuệ, hàng chục vạn tấn bom đạn đề chiếm lại Thành cổ Quảng Trị, nhưng trước sự chiến đấu kiên cường tiến công địch, người này ngã người khác thay, các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu vẫn đứng vững trên địa bàn.
     
         81 ngày đêm “ Lửa - thép Thành Cổ”, Mỹ ngụy đã dồn sức mạnh vật chất và tinh thần cao nhất nhưng cuối cùng phải chấp nhận thất bại.
    Cuộc chiến đấu ở Thành Cổ đã góp phân tích cực vào cuộc đấu tranh ngoại glao, tạo điều kiện cho toàn mặt trận chuyên hẵn sang thế trận mới, tiếp tục đánh địch phản kích, bảo vệ vùng giải phóng.
     
    Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở Thành cô Quảng Trị diễn ra như thể nào?

    2.  Tình hình lịch sử tỉnh Quảng Trị sau Hiệp định Paris?

     
         Ngày 27-1-1973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Tỉnh Quảng Trị chia làm hai vùng: vùng giải phóng tương đối rộng lớn, liên hoàn, kéo dài từ Bắc sông Bến Hải đến Bắc sông Thạch Hãn và vùng tạm bị chiếm từ Nam sông Thạch Hãn trở vào. Quảng Trị trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam, do đó quân, dân ta vừa phải đương đầu trực tiếp với địch để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, vừa chuẩn bị sức người, sức của để chi viện cho chiến trường miền Nam.
     
         Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, ở vùng tạm bị chiếm quần chúng nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, phá các kế hoạch “bình định” của địch; khôi phục, phát triển thực lực cách mạng đề cùng lực lượng của ta ở vùng giải phóng phối hợp tấn công địch.
     
         Ở vùng giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế, tiến bộ về văn hoá để đủ sức đập tan mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch, giữ vững hoà bình, độc lập, góp phần cùng toàn miền Nam tiến lên đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
     
         Tiếp sau chiến dịch tiến công Buôn Mê Thuột, đêm 18 rạng ngày 19-3-1975, thực hiện mệnh lệnh của Quân uỷ Trung ương, kế hoạch của Đảng uỷ Mặt trận, lực lượng vũ trang Quảng Trị bất ngờ tấn công dồn dập vào toàn bộ tuyến phòng ngự của địch, giải phóng nhân dân, phần đất còn lại, góp phần giải phóng Thừa Thiên Huế, cùng với cả nước tiến hành cuộc Tổng tiễn công mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
     
    Em hãy nêu nhiệm vụ ở vùng tạm bị chiếm và vùng giải phóng ? 
     

    3. Quân dân Vĩnh Linh góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, làm tròn nghĩa vụ hậu phương trực tiếp cho tiền tuyến lớn

     
         Ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn buộc phải tuyên bố ném bon hạn chế ở miền Bắc, nhân dân Vĩnh Linh đã bắt tay ngay vào việc khắc phục hậu quá chiến tranh, tích cực tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội.
     
         Với tinh thân “ chiến trường cần gì hậu phương sẵn sàng đáp ứng” quân và dân Vĩnh Linh đã đóng góp hàng vạn ngày công phục vụ chiến dịch đường 9 - Nam Lào, làm tốt khâu hậu cần cho lực lượng bộ đội chủ lực dừng chân để bước vào chiến dịch.
     
         Thua đau ở miền Nam, để quốc Mỹ quay trở lại đánh phá miền Bắc. Bình tĩnh, kiên quyết và sáng tạo, quân và dân Vĩnh Linh phát huy truyền thông " luỹ thép anh hùng” thực hiện” công sự hoá” toàn khu vực. Nhờ vậy, dù cho địch đánh phá ác liệt, Vĩnh Linh vẫn tiếp tục chiến đấu, phục vụ chiến đấu, chăm sóc thương bệnh binh, nhường cơm xẻ áo cho 5 vạn đồng bào Quảng Trị ra sơ tán, tranh thủ mọi thời gian sản xuất.
     
         Sau Hiệp định Paris, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Linh ra sức lao động sản xuất, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá-xã hội; chi viện sức người, sức của vào xây dựng vùng giải phóng Quảng Trị, cùng quân dân Quảng Trị giải phóng phần dân, phần đất còn lại trong chiến dịch xuân hè năm 1975, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.
     
    Nhiệm vụ của Đảng bộ và nhán dân Vĩnh Linh giai đoạn 1969-1975 là?
     
    20 năm chiên đấu vô cùng gian khổ, ác liệt, Đảng bộ và quân dân Quảng Trị đoàn kết một lòng, nêu cao quyết tâm:
    Nhà tan cửa nát cũng ừ
    Đánh thắng giặc Mỹ cực chừ sướng sau
    Cùng cả nước đánh cho Mỹ cút, nguy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thông nhất Tổ quốc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
         Chiến tranh qua đi để lại cho Quảng Trị bao nhiêu đóng tro tàn để khắc phục, bên cạnh đó nhiều chứng tích vẫn còn lưu lại đến ngày nay, trong đó có nhiều di tích lịch sử có giá trị nghiên cứu. Mời bạn đọc xem tiếp bài về DI TÍCH LỊCH SỬ QUẢNG TRỊ
     
    Câu hỏi:
    1. Kết quả, ý nghĩa lịch sử cuộc Tổng tiến công và nỏi dậy giải phóng Quảng Trị năm 1972?
    2. Tình hình tỉnh Quảng Trị sau Hiệp định Paris?
    3. Những thành tựu nổi bật của quân và dân Vĩnh Linh giai đoạn 1969- 19757
     
    THIẾT BỊ TỰ ĐỘNG HÓA CÔNG NGHIỆP Liên hệ:

    CÔNG TY TNHH EURODODO

    Đ/C: 6/33/7/4 Đường Vườn Lài P. An Phú Đông Q.12 TP.HCM Website: EuroDodo.com

    PHÒNG KINH DOANH

    Email: kinhdoanh@eurododo.com Hotline:  0374.008.015                     

    EDUculum.com - Nguồn tài liệu miễn phí

    Email: info@educulum.com

    Theo dõi Youtube

    Chuyên mục: Đề thi | Tiểu học | Nuôi dạy con | Toán |  Văn | Anh | sinh | sử

     

gotop