• Vai trò của người Hoa đối với sự phát triển Nam Bộ - NCKH

    Nghiên cứu khoa học (NCKH) Vai trò của người Hoa đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Nam Bộ nước ta từ thế kỉ 16-19 (XVI – XIX). Có thể thấy rằng người Hoa di cư vào Nam Bộ thế kỳ XVI -16 là nhằm tìm một nơi đất lành để sinh sống. Họ không hề có ý định là hoạt động chính trị ở vùng này. Tuy nhiên, những gì họ làm được thật sự là chính trị.

    Ngày đăng: 01-10-2019

    375 lượt xem

    VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN

    KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NAM BỘ TỪ THẾ KỶ XVI – XIX

    Đề tài Nghiên cứu khoa học (NCKH) Vai trò của người Hoa đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Nam Bộ nước ta từ thế kỉ 16-19 (XVI – XIX). Tài liệu tham khảo có thể dùng làm bài tiểu luận. Người thực hiện Nguyễn Văn Hữu Đức. 

    Trải qua bao giai đoạn di cư, sau khi đến Nam bộ, người Hoa  bắt tay ngay vào công cuộc mưu sinh của mình. Vốn cần cù, chăm chỉ lại năng động sáng tạo người Hoa đã tạo nên nhiều giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như đóng góp trong công cuộc phát triển và bảo vệ xứ này.

    2.1. Vai trò của người Hoa trong hoạt động chính trị ở Nam Bộ

    Có thể thấy rằng người Hoa di cư vào Nam Bộ thế kỳ XVI là nhằm tìm một nơi đất lành để sinh sống. Họ không hề có ý định là hoạt động chính trị ở vùng này. Tuy nhiên, những gì họ làm được thật sự là chính trị.

    Nhà Hồ và cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly xứng đáng lãnh đạo

    Vụ án Trần Dụ Châu và gốc nhìn hiện thực

    2.1.1. Người Hoa khai phá và mở rộng vùng đất đai Nam Bộ

    Một di dân người Hoa là Mạc Cửu khi đến Phương Thành (Hà Tiên) đã chiêu mộ dân lập ra bảy xã ở Hà Tiên theo một dải đất từ Congpongsoon về Cà Mau. Có lẽ đây là bảy xã thôn đầu tiên ở vùng Hà Tiên này được tổ chức quy củ, có chính quyền. Trước  đây lưu dân đến Hà Tiên nhiều song sống lẻ tẻ, chưa có chính quyền nắm giử. Về sau, năm 1708 Mạc Cửu xin thuộc chúa Nguyễn. Nghĩa là đất đai của Đàng Trong có thêm khu vực Hà Tiên mà không dùng chiến tranh hoặc đổ một giọt máu nào.

              Nhóm di dân người Hoa khác của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cũng ra sức mở rộng đất đai ở khu vực Mỹ Tho, Biên Hòa, Gia Định. Từ những trung tâm buôn bán lớn mà ta đã biết – nơi tụ cư của đa số người Hoa thì họ còn tỏa ra xung quanh khai phá đất mới và trồng trọt cùng cư dân bản xứ. Vì thế, sau hơn một thế kỳ di dân, riêng tại miền Đông Nam Bộ đã có tới hơn bốn vạn hộ (khoảng 200.000 dân) sinh sống trên một địa bàn rộng trên ngàn dặm. Người Hoa chiếm khá đông chỉ sau người Việt.

              Đó là cơ sở cho chúa Nguyễn Phước Chu cử thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, lập phủ Gia Định gồm huyện Phước Long với dinh Trấn Biên ở Đồng Nai và huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn ở sài Gòn. Ở trong hai huyện ấy chúa Nguyễn còn lập xã Thanh Hà và Minh Hương của người Hoa. Lúc này, thì vùng Gia Định, Đồng Nai đã chính thức thuộc đất chúa Nguyễn, có chính quyền quản lý hẳn hoi. Nghĩa là người Hoa góp phần mở rộng đất đai cho chúa Nguyễn.

              Không chỉ dừng lại ở đó, con trai của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ còn dùng quân đội của mình giúp đở các vương Chân Lạp. Khi Mạc Nguyên lánh sang Hà Tiên được Mạc Thiên Tứ giúp đỡ bèn tâu với chúa Nguyễn xin cắt hai vùng Tầm Bôn (Long An) và Soài Rạp (Gò Công) cho chính quyền Đàng Trong. Khi Nặc Nhuận bị Nặc Ninh giết để cướp ngôi, cháu của Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Khoát gửi quân sang giúp. Sau khi lên ngôi năm 1759, Nặc Tôn hiến đất Phsan Đênh (Sa Đéc) và Meat Chrouk (Châu Đốc) để trả ơn. Ngoài ra, Nặc Tôn tạ ơn Mạc Thiên Tứ (vì chính Mạc Thiên Tứ lãnh đạo quân đội bảo vệ và giảnh lại ngôi vua cho Nặc Tôn) bằng cách cắt năm vùng Kompom (Vũng Thơm), Kan pot (Cần Bột), Chưng Rùm (phía Nam tỉnh Treang)…..Thiên Tứ dâng đất này cho chúa Nguyễn và được chú Nguyễn cho thuộc về đất Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ cai quản. Tuy nhiên, năm 1847 triều đình Huế trả vùng đất bày cho Campuchia.

              Như thế Mạc Thiên Tứ, Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên là những người có công mở rộng đất Đàng Trong cùng với bao người Hoa vô danh khác. Vì thế, mà Nam Bộ mở rộng như ngày nay. Cho nên, không thể phủ nhận công lao khai phá và mở rộng đất đai của người Hoa. Dẫu là mục đích khai phá lúc đầu của họ chỉ là để kiếm miếng ăn, hay để củng cố quyền thống binh của mình trên vùng đất được chúa Nguyễn giao. Có thể, đó là động lực để cho người Hoa khai phá mạnh hơn và liên tục hơn.

    2.1.2. Góp phần bảo vệ chủ quyền vùng đất Nam Bộ

    Có nhiều người Hoa khi đến Nam Bộ đã góp phần tích cực trong việc bảo vệ chủ quyền vùng đất này. Tiêu biểu như cha con Mạc Cửu, cha con Trần Thượng Xuyên.

    Mạc Cửu từng chống lại sự xâm lược của quân Xiêm La năm 1715 khi Nặc Thâm ở Chân dẫn quân Xiêm tới xâm lấn Hà Tiên. Mạc Cửu chống lại không được bèn chạy ra giữa Trung kỳ. Nặc Thâm bèn cướp hết của cải rồi đi. Sau đó Mạc Cửu trở về Hà Tiên xây đồn bảo vệ ngoài xa, canh phòng nghiêm ngặt làm kế phòng thủ. Có thể nói, Mạc Cửu gắn bó sân sắc với đất Hà Tiên, dù có lúc quân Xiêm đã dụ dỗ, đã bắt buộc ông về Xiêm nhưng ông đã trốn thoát về xây dựng Hà Tiên.

    Con trai Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ, kế tục cha xây dựng và bảo vệ đất Hà Tiên ngày càng phồn thịnh. Từ khi cha làm thống binh ở Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ lo củng cố thành lũy tuyển chọn binh lính, đắp thêm thành bao, biến nơi đây thành tiền đồn canh giữ cả đất Gia Định, ông đã nhiều lần chống trả lại quân Xiêm và quân Chân Lạp vào cướp phá Hà Tiên trong suốt thời gian từ 1739 đến 1773. Bằng chứng là năm 1772, ngụy vương Xiêm La là Phi Mã tôn đem quân cướp Hà Tiên, quyết san phẳng thành lủy. Mạc Thiên Tứ lúc đó đang trấn giữ Trấn Giang, đã chiêu mộ tập hợp binh mã chiến đấu với kẻ thù. Thực ra, trước đó năm 1766, Thiên Tứ đã cảnh giác trước sự chuẩn bị chiến thuyền tới xâm lấn Hà Tiên của Xiêm La. Năm 1771 ông đã cho người dò xét được việc Xiêm La sắp sửa đánh úp Hà Tiên, xin Tống Văn Khôi đang trấn giữ Gia Định cho quân tới giúp nhưng Khôi chần chừ phát binh. Vì thế, mới có việc năm 1772 Hà Tiên bị thất thủ. Cả cuộc đời Mạc Thiên Tứ đã dốc sức bảo vệ miền đất này.

    Về Trần Thượng Xuyên, ông nhiều lần đánh Cao Miên sang xâm phạm (từ năm 1699 đến năm 1700). Năm 1717, Trần Thượng Xuyên khi hạ thành La Bích của Nặc Thâm thuộc Xiêm. Ông đã gởi gắm phần đời còn lại của mình nơi này và yêu nó như đất Trung Hoa của mình. Khi mất người đời sau nhớ công đức lập đền thờ. Trong niên hiệu Minh Mệnh và Thiệu Trị đều phong làm thượng đẳng thần đến nay xã Dân Rần còn phụng tự hương hỏa.

    Song song với việc có công lao đánh đuổi ngoại xâm, di dân người Hoa còn có công dẹp bọn phản loạn, cướp biển, bảo vệ trị an cho vùng đất Nam Bộ. Năm 1767, Mạc thiên Tứ cho quân vây bắt Hoắc nhiên vốn là người Triều Châu am hiểu võ nghệ, thường rụ tập đồng lõa để cướp bóc. Vào Khoảng năm 1767, Hoắc Nhiên lấy đảo Cổ Công là nơi hiểm trở hẻo lánh bèn chiếm làm sào huyệt, chúng tiến hành đón cướp thuyền buôn Nam Bắc ra vào dọc biển, cướp đoạt của cải của dân Tiêm la tị nạn. Chúng hoành hành ngang ngược và miêu toan chiếm đoạt trấn Hà Tiên nhưng thất bại.

    Đến năm 1770, Hà Tiên lại bị âm mưu đánh úp một lần nữa. Một lính đảo ngũ là Phạm Lại Họp đảng ở Vũng Thơm, Cần Vọt cùng Viên Ly Ma Lư (người Bồ Đà), Ốc Kê (Chân Lạp), họp bọn có hơn 800 quân và mười năm chiến thuyền chia làm hai đường thủy bộ tới cướp Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đánh phá được, đâm chết Lâm Pha trên sông, bắt được Kê Lư đem chém.

    Hà Tiên vốn là xứ xa triều đình, gần đó lại có nhiều đảo nhỏ cho bọn cướp, bọn phản loạn cư trú nên Hà Tiên liên tiếp gặp phải âm mưu đánh phá. Năm 1771, bọn Trần Thái (người Triều Châu) liên kết với người họ Mạc là Mạc Sủng, Mạc Khoan làm nội ứng song thất bại, Trần Thái dẫn hai vạn quân thủy bộ Xiêm đánh phá trấn Hà Tiên nhưng bị Thiên Tứ dẹp loạn.

    Như vậy, việc người Hoa tham gia lãnh đạo quân đội chiến thắng bọn xâm lược và bọn phản loạn đã cũng cố tình đoàn kết giữa hai cộng đồng Hoa – Việt. Sự hòa đồng diễn ra mau chóng hơn, bởi khi chiến tranh là lúc đoàn kết gắn bó với nhau. Ngoài những người Hoa đóng vai trò lãnh đạo thì những di dân người Hoa được tuyển quân bình thường như người Việt theo quy chế của triều Nguyễn. Đây là một lực lượng không nhỏ góp phần vào việc dẹp yên bọn xâm lược và quân phản loạn.

    Nhìn chung, thì mọi việc người Hoa tham gia vào đời sống chính trị ở nơi mà họ mới trú ngụ là điểm đặc biệt. Điều đó chứng tò di dân người Hoa khả năng động và sớm hòa đồng. Họ không chỉ là dân buôn bán mà họ còn có công trong việc khai phá, mở rộng và bảo vệ chủ quyền của vùng đất này.

    2.2. Vai trò của người Hoa trong hoạt động kinh tế ở Nam Bộ thế kỷ 16-19

    2.2.1. Người Hoa trong hoạt động buôn bán ở Nam Bộ

    Vùng đất Nam Bộ ra đời đúng vào thời đại thương nghiệp. Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn đảm bảo rằng chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam, chỉ trong vài thập niên đã trở nên giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía Bắc và mở rộng về phía Nam. Không có thương mại, Đàng Trong khó có thể tồn tại, cho dù tài nguyên thiên nhiên có dồi dào vì thế những khó khăn này vương quốc này phải đối đầu. Thiếu nhân lực, thiều tiền của, không có sẵn quan hệ với bên ngoài và nhiều khó khăn khác, nhất là khi lại phải xây dựng trên một vùng đất mới. Do đó ngoại thương trở thành yếu tố quyết định và mang tính sống còn trong việc phát triển kinh tế xứ Đàng Trong.

    Bên cạnh đó sự phát triển kinh tế mà cụ thể là trong lĩnh vực ngoại thương thì bởi hoàn cảnh lịch sử - địa lý – đặc thù lãnh thổ cảu hai nước mà Việt Nam và Trung Quốc có mối quan hệ buôn bán với nhau, đây là mối quan hệ buôn bán chủ yếu và thường xuyên. Ở Nam Bộ người Hoa chiếm vị trì hàng đấu trong ngành mại và phát triển nghề buôn bán, ngoài ra ở cùng đất này còn có người Khơme sinh sống họ vốn định cư lâu đời ở nơi đây nhưng dường như họ không tham gia buôn bán, chì có buôn bán với một số hình thức nhỏ lẽ. Còn thương nhân người Hoa với số lượng đông đảo, năng động và nhạy bén kinh doanh và biết khai thác tối đa các nguồn lực kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong thương nghiệp Việt Nam.

    Thêm vào đó là do quen thuộc địa hình phong thổ, lại có hiểu biết sâu về con người và tình hình đất nước, người Hoa đã tỏ ra khôn khéo và tháo vát nên các lái buôn phương Tây phải thán phục và nhờ cậy họ làm môi giới, nhưng chính vai trò đứng ở khâu trung gian đó mà họ nhanh chóng trở nên giàu có. Như vậy trải qua thời gian định cư mả chỉ với khoảng 5% dân số, nhưng các Hoa Kiều đã nắm trong tay gần 80% các ngành hoạt động thương mại ở Nam Bộ, họ đã làm biến đổi kinh tế tự cấp tự túc và thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, góp phần làm chuyển biến quan niệm “trọng nông ức thương” đã ăn sâu vào tiềm thức của cư dân Việt Nam.

    Như vậy có thể thấy rằng, vùng đất Nam Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi giúp ích rất nhiều cho người Hoa trong việc buôn bán. Song điều kiện cốt yếu có lẽ là khả năng và truyền thống kinh doanh của họ mà đến tất cả thế giới còn phải khâm phục. Và một điều cần lưu ý đó là công việc buôn bán của người Hoa mang đậm tính chất “trung chuyển”, họ không tự mình sản xuất ra hàng hóa để bán mà phải mua của người này, bán cho người khác nhằm thu lợi nhuận.

    Điều này khác hẳn giai đoạn sau (thương nhân kiểm soát). Cũng từ chổ kinh doanh thương nghiệp, những thương nhân người Hoa này đã có dần một vị thế về vốn, về thị trường….và nắm độc quyền về nghề này. Họ giàu nên một cách nhanh chóng và trở thành những đại thương gia có số vốn kếch xù. Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định Thành thông chí” có chép “Người mà trong nước điều biết danh như ông tổ ngoại tộc tôi là Lâm Tổ Quan, tên tự của ông người Tàu gọi là Nhái, cho nên tục xưng ông Nhái. Ông là người huyện Tấn Giang, phủ Triều Châu, tỉnh Phúc Kiến, gặp lúc vua Thế tôn Võ Vương (1738 – 1765) đổi phục sắc, vì thấy kiểu áo mão đương cải cách ấy thực là vinh diệu, nên ba cha con đồng nhất dâng vàng xin làm nộ viện thị hàn, vua nghe danh tính của ba người khen là nhà phú hào”. Ông nội của Trịnh Hoài Đức là Trịnh Hội cũng được xã hội đương thời công nhận là “cự phách” của giới thương gia giàu có.

    Có thể nói rằng, ở Nam Bộ từ thế kỷ XVII – XVIII, dường như ở đâu có buôn bán, có chợ búa. Cảng thị…..là ở đó có thương nhân người Hoa. Trong đó, họ tập trung đông nhất ở các trung tâm buôn bán lớn, nơi mà họ có ý tưởng và đã đứng ra lập nên. Những hoạt động cùng với những tổ chức kinh tế của họ là những tiền đề để hình thành các “khu đô thị Trung Hoa” trong lòng các quốc gia Đông Nam Á, thúc đẩy kinh tế bản địa phát triển. Song thời Nguyển, luồng thương mại, buôn bán trao đổi giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn thịnh hành nhưng không được như thời kỳ trước.

    Bởi do những chính sách ưu đãi của nhà nước, các Hoa Kiều đã không từ các thủ đoạn để lũng đoạn thị trường như buôn bán, vận chuyển các mặt hàng cấm. Đặc biệt, từ năm 1831 trở đi, đã liên tiếp xảy ra các hiện tượng nhà Thanh đúc giả tiền kẽm tung sang nước ta, làm cho giá cả thị trường tăng vọt, người Thanh xâm phạm vùng biên giới theo đường thủy xâm nhập vào nước ta, mượn tiếng đánh cá để đón cướp thuyền buôn lậu. Trước tình cảnh đó, buộc nhà nước phải ban hành các lệ cấm buôn bán các mặt hàng này làm cho tình hình bang giao với nhà Thanh ngày một xấu đi.

    Vua Minh Mạng thường xuyên nhắc nhở, ra lệnh phải đề phòng nhà Thanh, nếu thấy thuyền Thanh dị dạng ẩn núp, tình trạng khả nghi, thì bắt giải cho quan địa phương tra xét, thuyền bè đến buôn bán ở các hạt phải có hàng hóa mới cho ra vào cửa biển làm trái thì phải tội. Tuy nhiên vẫn có nhiều giặc biển  nhà Thanh đến cướp ở các hạt Quảng Bình, Thanh Nghệ. Trước hành động ngang ngược đó, Minh Mạng đã thi hành những biện pháp mãnh tay hơn “hàng năm từ tháng hai đến tháng chín như có giặc biển thì theo chỉ trước mà bắt hải, sang mùa đông thì thôi, chi lại thành lệ lâu dài”.

     Theo đó, những quy định và lệ cấm liên tiếp được thi hành, điều đó chứng tỏ sự lũng đoạn, thao túng thị trường Việt Nam của các thương nhân Hoa Kiều khiến cho chính quyền nhà nước luôn phải nhắc nhở nhân dân phải cảnh giác, đề phòng “kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp trong nước, ức chế các thương nhân người Việt, cự tuyệt ngoại thương với nước ngoài các ông vua triều Nguyễn đã thi hành chính sách ưu đãi cới các thương nhân người Hoa tiếp tay cho chúng lũng đoạn thị trường trong nước. Về sau, mặc dù nhà nước có thi hành một số lệ cấm với các lái buôn này nhưng cũng không cứu vãn được tình thế.

              Như vậy, sự tham gia của người Hoa trong hoạt động buôn bán ở xứ này đã làm cho nền kinh tế hàng hóa phát triển và có một vị trí nhất định, mặc dù trên thực tế đó vẫn là nền kinh tế phong kiến “những yếu tố phát triển tư bản chũ nghĩa thương mại còn rất nhỏ yếu” và đóng vai trò phụ thuộc lịch sử. Không chỉ thúc đẩy sự mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa mà còn dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đô thị như Thanh Hà, Hội An…..các trung tâm buôn bán tiêu biểu như ở Chợ Lớn, Nông Nại Đại Phố…Bộ mặc của ngoại thương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất Nam Bộ thay đổi hẳn về chất. Đây là những đóng góp nổi bật của người Hoa cho vùng đất này.

              Nói tóm lại, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của người Hoa đối với vùng đất Nam Bộ, nhưng cũng phải thấy rằng các thương nhân người Hoa đang “lấn sân” từng bước lũng đoạn thị trường Việt Nam. Điều này là mối lo ngại của chính quyền phong kiến yêu cầu phải thực hiện những chính sách vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn để lợi dụng họ đồng thời kìm hãm sự thao túng, lũng đoạn của người Hoa trong nền kinh tế nước ta. Có như thế, mới tạo ra được một nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển lâu dài.

    2.2.2. Người Hoa và các trung tâm buôn bán lớn ở Nam Bộ

              Khi đến Nam Bộ, người Hoa lập ra nhiều trung tâm buôn bán lớn trong đó phải kể đến Cảng thị Hà Tiên, Nông Nại Đại Phố (Biên Hòa), Chợ Lớn (Gia Định), Mỹ Tho Đại Phố (Mỹ Tho).

    2.2.2.1. Cảng thị Hà Tiên

              Sau khi được chúa Nguyễn phong cho chức Tổng binh, Mạc Cửu về trấn xây thành quách dựng trang trại, xếp đặc kêu thuộc, đặt nhiều quán khách tiếp đón kể hiền tài, dân tới ở ngày một đông. Đất ấy trở thành một đô thị nhỏ và người buôn bán bốn phương kéo về. Hà Tiên vì thế trở thành thương cảng sầm uất ở biển phía Nam. Sang thời Mạc Thiên Tứ, vùng này yên ổn một thời gian dài sau khi đạo quân do Mạc Thiên Tứ lãnh đạo đáng tan quân Xiêm, xâm lấn, tiêu trừ bọn cướp biển. Điều đó tạo sức thu hút đối với người Hoa, người Việt và cả người Miên từ các nơi tụ họp về ngày một đông, hoạt động lưu thông hàng hóa của trấn Hà Tiên ngày một phát triển.

               Hà Tiên có sự thịnh vượng như vậy, cũng là dễ hiểu khi mà cả hai cha con họ Mạc điều hết lòng khuyến khích buôn bán. Nhiều tài liệu cho thấy cha con Mạc Cửu đã kêu gọi và đón nhận thuyền buôn các nước đến buôn bán, đồng thời cũng đặt quan hệ buôn bán với các nước, bên cạnh đó còn thi hành chính sách thuế khóa ưu đãi hàng hóa buôn bán chỉ phải chịu món thuế nhỏ mà thôi.

              Như vậy, so với Đàng Ngoài, nếu như vua Lê – Chúa Trịnh lo cảnh giác, hạn chế và bóc lột thương nhân bằng cách đánh thuế nặng hơn thì Mạc Cửu đã có chính sách thu hút khách thương rất đúng lúc và kịp thời, thuyền buôn nước ngoài đến đây ngày càng đông hơn. Đất Mạng Khảm hay Phương Thành (tên củ của Hà Tiên), từ  một miền còn hoang sơ chưa mấy sầm uất, dười thời Mạc Thiên Tứ trở nên phồn thịnh. Sự thay đổi theo chiều hướng tích cực đó đã chứng minh công lao to lớn của những người Hoa di cư đến xứ này, đặc biệt là hai cha con họ Mạc. Đương nhiên cân nhận thức rõ ràng khi Mạc Cửu đến đây thì vùng đất này đã có sự buôn bán. Do thấy được vị trì và khả năng cũng như buôn bán ở xứ này nên Mạc Cửu mới quyết định chức Óc Nha ở Chân Lạp đến đây xây dựng và mở mang phố xá. Song do vốn là một thương gia nhạy bén nên ông đã tập hợp được nhiều lưu dân Việt đến khai phá cũng như mở rộng buôn bán tại mảnh đất Hà Tiên này.

              Có thể nói, cảng thị Hà Tiên một thời lừng lẫy và huy hoàng với sự sầm uất, phồn hoa là nhờ công lao của không chỉ một mình họ Mạc mà là cả những người Hoa ở nơi đây. Về sau, Hà Tiên ngày càng bị tàn phá do những cuộc xâm chiếm từ bên ngoài cũng như nhiều biến động trong nước.

    2.2.2.2. Nông Nại Đại Phố (Cù Lao Phố)

              Sau khi Trần Thượng Xuyên cùng các binh sĩ được chúa Nguyễn cho phép cư trú ở Nam Bộ, đoàn thuyển do ông đứng đầu quyết định vượt qua cửa biển Cần Giờ đến định cư ở vùng Bàn Lân (Biên Hòa), khi ấy còn là rừng rú.

              Nhóm người Hoa này đã phát hiện ra một ưu thế của cùng Cù Lao phố từ khi còn là bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước. Tuy nằm cách biển hàng kilômét nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể tiếp tục ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản cũng như xuống phía Nam ra biển bằng cửa Cần Giờ và có thể sang tận Cao Miên. Điều kiện thuận lợi ấy được Trịnh Hoài Đức nói đến “Cù Lao Phố lại có tên là Cù Chau vì có quanh queo co duỗi có hình dáng như rồng hoa giỡn nước….Sông Phước Giang quanh phía Nam, sông San Hà Ôm ở phía Bắc, trước có cầu gỗ ngang sông rộng rãi”, có lẽ cây cầu gỗ ấy do những người nơi đây làm ra, nhưng về địa chí thì không thể phủ nhận sự thuận lợi cho việc buôn bán kinh doanh. Trong thời buổi phương tiện giao thông đường bộ còn hạn chế, việc di xa chủ yếu bằng thuyền thì những con sông là điều kiện cần thiết. Sông sâu lại có thể là nơi neo đậu của nhiều thuyền lớn. Cho nên việc phát hiện ra vùng Cù Lao này thể hiện tư duy thương nghiệp của những người Hoa này.

              Nhận thấy Cù Lao Phố là nơi thuận lợi và thích hợp nhất với mình, phần lớn nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên cầm đầu đã chuyển từ Bàn Lân về Cù Lao Phố, phát hoang dựng nhà, lập bến, mở đường, xâu dựng phố chợ. Sử cũ chép rằng “Trần Thượng Xuyên chiêu tập người buôn bán nước Tàu đến cần thiết”. Nhóm người Hoa này rất năng động trong phát triển kinh tế nơi đây, họ vừa khai thác, vừa thu mua của các cộng đồng dân cư khác (người Việt, người Khơme…), tập trung nhiều hàng hóa về tay mình rồi bán cho các thương gia nước ngoài. Sau vài ba thập kỷ, nhóm người Hoa này đã biến Cù Lao Phố thành “đệ nhất thương cảng” ở miền Nam thu hút nhiều thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây.

              Tên gọi Cù Lao Phố lả theo tên Nôm, còn người Hoa gọi đây là Nông Nại Đại Phố (có lẽ phát âm từ “Đồng Nai” mà ra). Về sự sầm uất, khang trang của Đại Phố sử cũ chép “Ở đầu phía Tây là Đại Phố khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói tường vôi, lầu cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh sáng mặt trời, liên tục nhiều năm dặm mở ra ba vạch đường phố. Phố lớn lát đưởng đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh bằng phẳng như đá mài. Khách buôn tụ họp đông, thuyền biển, thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đô hội. Nhà buôn to giàu tập trung ở đây nhiều nhất”.

              Vẽ phồn thịnh ấy là nhờ công lao lớn của Trần Thượng Xuyên cùng nhóm người Hoa, song người Hoa không chỉ tập trung ở những nơi thương cảng Cù Lao Phố này. Họ còn tạo ra một hệ thống đại lý thu mua và phân phối hàng hóa ăn sâu vào các bến sông, bến chợ từ đầu nguồn cho đến nơi cửa biển. Có thể nói, Nông Nại Đại Phố xứng đáng với mệnh danh “Đại Phố”, sự phồn thịnh của nó đã gây tiếng vang lớn trong lịch sử Nam Bộ. Tuy nhiên về sau vùng đất này bị thiệt hại đáng kể bởi các cuộc bạo loạn, cư dân sơ tán đi nơi khác tìm nơi sinh sống.

              Tóm lại, sự thịnh vượng của Cù Lao Phố đã khẳng định công lao cũa Trần Thượng Xuyên cùng với những di dân người Hoa. Họ đến đây khai phá và mở rộng đất đai sinh sống. Đồng thời, tạo nên sự phồn thịnh một thời của Nông Nại Đại Phố.

    2.2.2.3. Mỹ Tho Đại Phố

    Nếu như nhóm Trần Thượng Xuyên về Trấn Biên Hòa xây dựng Nông Nại Đại Phố thì nhóm do Dương Ngạn Địch cầm đầu lái dòng thuyền qua cửa Tiểu, cửa Đại về khai phá, lập phố Mỹ Tho.

    Phố chợ Mỹ Tho, tuy không có nhiều lợi thế bằng Nông Nại Đại Phố nhưng cũng cẫn phát triển không kém. Bức tranh Mỹ Tho Đại Phố dựng lên cụ thể “Phía Nam lỵ sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đỉnh cao, chùa rộng, ghe thuyền ở các nòi sông biển đến đậu đông đúc, là một nơi đô hội phồn thịnh, huyên náo”.

    Nói về quy mô thì dường như Mỹ Tho không to tát bằng Nông Nại Đại Phố. Mà nơi đây thiên về đời sống tinh thần hơn với cột chạm đỉnh cao, chùa rộng. Miêu tả phố chợ mà lại đi liệt kê nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng như thế chứng tỏ con người nơi đâycó đời sống giàu truyền thống và chuộng văn hóa, nghệ thuật. Ở Mỹ Tho có lẽ chỉ có một bộ phận người Hoa chú trọng đến phát triển buôn bán. Bởi lẽ, bên cạnh việc lập Mỹ Tho Đại Phố, Dương Ngạn Địch còn nhóm họp người Tàu, người Miên, người Việt về làm ruộng, chia lập trang trại, thôn ấp. Như thế để có lực lượng tham gia vào nông nghiệp thì một số đông người Tàu đã không tham gia buôn bán và tạo ra sự tấp nập cũa phố chợ này. Nơi đại đô hội ấy chắc hẳn dù nhỏ bé nhưng cũng không thua kém những đô hội khác như Nông Nại Đại Phố, cảng thị Hà Tiên, Chợ Lớn.

    Tuy nhiên Mỹ Tho Đại Phố chỉ tồn tại được 9 năm. Năm 1682 đã có hiện tượng một lực lượng người Hoa của Dương Ngạn Địch bị lôi kéo vào cuộc xung đột giữa Nặc Thu và Dương Ngạn Địch tự xưng là Phấn Dũng Hổ Oai tướng quân, nắm toàn bộ binh sĩ Long Môn, cùng cố lực lượng để tiến hành cướp bóc dân Cao Miên tạo ra sự bất ổn trong vùng. Nhiều dân chúng chạy đi lánh nạn nơi khác. Mỹ Tho Đại Phố rơi vào cảnh “sớm nở tối tàn”.

    2.2.2.4. Chợ Lớn

    So với các trung tâm buôn bán lớn ở xứ Đàng Trong thời kỳ này như: Mỹ Tho Đại Phố, Nông Nại Đại Phố, cảng thị Hà Tiên, thì Chợ Lớn có lịch sử hình thành muộn hơn (tận năm 1698). Chợ Lớn cón tên là chợ Sài Gòn, Phố Khách hay Minh Hương xã. Về sau nó được mở rộng và gọi là Sài Gòn. Lịch sử triều Nguyễn cũng như nhiều tư liệu khác cho thấy đây là một khu đô hội do chủ yếu người Hoa xây dựng lên.

    Chợ Lớn bắt đầu xây dựng do một nhà Minh Hương của đoàn Dương Ngạn Địch từ năm 1968. Song nó chỉ thực sự phồn thịnh và là trung tâm buôn bán của xứ này khi các trung tâm thương mại kia dần xa sút. Nhất là khi Tây Sơn đánh vào Nông Nại Đại Phố, người Hoa ở xã Thanh Hà chạy hết về Phiên Trấn (Sài Gòn) lập nghiệp và tiếp tục phát huy sở trường của mình. Lực lượng người Hoa tăng lên đồng nghĩa với vốn liếng, kinh nghiệm và mối làm ăn cũng tăng lên. Thuyền bè khách quen của Nông Nại Đại Phố một phần di dân về Chợ Lớn khiến nơi này ngày càng sầm uất.

    Điều đã làm cho Chợ Lớn lại có ưu thế chẳng kém gì với Nông Nại Đại Phố. Nằm trên sông Sài Gòn ngược dòng lên buôn bán và khai thác ở vùng thượng nguồn Tây Ninh, sang Khơme…….xuôi dòng ra biển qua cửa Soài Rạp. Năm 1824 khi John White đến đây thám hiểm đã từng nhận xét “thành phố Sài Gòn được xây dựng trên một nhánh quan trọng của một con sông lớn và trên bờ của nhiều kênh rạch. Nó là trung tâm thương mại của các tỉnh phì nhiêu này….vài người Hoa nhập cư làm thương mại trên một quy mô lớn, người Nam Kỳ phần lớn còn nghèo để có thể làm như vậy….”.

    Đó là điều dễ hiểu khi người Hoa có lợi thế hơn hẳn người Việt về khả năng buôn bán. Miêu tả Chợ Lớn trong thời kỳ từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức đã tả rất tỉ mỉ: Chợ Lớn “cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu đường quan lộ (Nguyễn Trãi ngày nay). Nội chợ có đường thông ra từ phái đi liên lạc hình chử điền, nàh cửa phớ xá liên tiếp, thềm mái cùng nhau, người Hán và người ta ở chung lôn dài độ dặm, đủ cả trăm thức, ở bến sông Nam và Bắc không thiếu món gì”.

    Có thể xem Chợ Lớn sầm uất thật nhưng đường sá hình như chưa được quy hoạch lắm. Nó ngoằn ngoèo và chật trội. Thậm chí, lúc ban đầu việc buôn bán ở nơi đây khiến nhiều thương nhân phải vất vả , không được thư thả nghỉ ngơi, vui chơi ca hát như ở Nông Nại Đại Phố. Tình trạng này được người Hoa ra sức khắc phục, bản thân họ là những người trọng chữ tín. Họ sẵn sàng làm vừa lòng khách thương và cải thiện tình hình nơi đây. Vì thế Chợ Lớn ngày càng đông đúc và khẳng định vị thế của mình. Hàng hóa nơi đây ngày càng nhiều và đa dạng, phong phú với đủ tất cả các mặt hàng.

    Bên cạnh đó thì Chợ Lớn sầm uất, náo nhiệt không chỉ bởi hoạt động kinh tế mà còn bởi những hội quán do người Hoa lập ra:”….Đường lớn ở đầu phía Bắc có miếu Quán Thánh và ba hộ quán Phước Châu, Quảng Đông, Triều Châu ở hai bên tả hữu. Phía Tây đường lớn ở giữa có miếu Thiên Hậu, gần phía tây có hội quán Ông Lăng. Ở đầy phía Nam có hội quán Chương Châu. Hễ gặp tiết đẹp, đêm trăng, các ngày tam nguyên sóc vộng thì treo đèn đặt bàn, đưa tranh kĩ xảo, trông như cây lửa cầu sao, thành gấm vóc, hội quỳnh đao, trống kèn huyên sáo, trai gái dập dìu. Đó là một nơi phố thị lớn, đô hội, náo nhiệt”.

    Vẽ đẹp đó của Chợ Lớn mang đậm phong cách Trung Hoa. Trong khi số người Việt ở đây khá đông nhưng lại không tạo ra được sự sầm uất, phồn vinh ấy. Do vậy, một chác khái quát nhất có thể thấy rằng từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỹ XIX, ở Nam Bộ có bốn trung tâm buôn bán lớn thì điều do người Hoa xây dựng và phát triển, kiến thiết nên. Quy mô cũng như vị thế của các trung tâm được lịch sử thẩm tra và khẳng định. Ban đầu khi đến xứ này người Hoa không hề có ý định xây dựng cái gì đó để lại cho con cháu đời sau, mà chỉ do nhu cầu kinh tế. Sang đất mới, có điều kiện thuận lợi, để sống sót và khẳng định vị thế cảu mình để người bản xứ không thể khinh miệt. Người Hoa chỉ còn cách là giàu hơn. Muốn giàu có họ phải biết tư duy và phát huy sở trường buôn bán của mình. Xây dựng trung tâm thương mại là điều vô cùng cần thiết.

              Xuất phát từ nhu cầu kinh tế, việc người Hoa tham gia đông đảo vào hầu hết các hoạt động buôn bán ở Nam Bộ đã tạo ra sự khởi sắc của xứ này. Bột mặt của xứ này thay đổi rõ rệt chỉ trong vòng hơn một thế kỷ. Đồng thời, hoạt động buôn bán của người Hoa đã góp phần làm chuyển biến quan niệm “trọng nông ức thương” mà bao dời ăn sâu vào tiềm thức người Việt. Sự giàu có của người Hoa chủ yếu do buôn bán đã kích thích người Việt tự phá vỡ quan niệm lạc hậu của mình, bắt đầu tích lũy vốn và tham gia buôn bán.

    2.3. Vai trò của người Hoa trong lĩnh vực nông nghiệp Nam Bộ

    Năm 1679 ngoài cư dân người Việt vùng này có thêm lưu dân người Hoa đến đây định cư va khai phá và phát triển kinh tế nông nghiệp:

    Vùng đất Hà Tiên

    Cái tên Hà Tiên không ai biết chính xác có tự bao giờ, chỉ biết xưa kia thuộc vùng đất Mang Khảm (tục danh Trấn Phiên thành, còn gọi là Đồng Trụ trấn). Tương truyền, vì mến cảnh trần gian nơi đây thiên nhiên tươi đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường hay xuất hiện ngoạn cảnh trần gian, từ đó đã xuất hiện tên gọi Hà Tiên.

    Năm 1679, Mạc Cửu (quê Lôi Châu – Trung Quốc) do không chịu nổi cảnh cai trị hà khắc của nhà Thanh, rời bỏ quê hương lưu lạc đến vùng đất Hà Tiên, chiêu tập lưu dân khai hoang mở đất lập nên xứ Hà Tiên, phát triển buôn bán làm cho vùng đất này ngày càng thêm trù phú, vì vậy khoảng đầu thế kỷ 17, vua Cao Miên đã phong cho Mạc Cửu chức Ốc Nha để cai quản vùng đất này.

    Tuy nhiên, do bị quân Xiêm La thường xuyên quấy nhiễu, trong lúc Cao Miên không đủ sức để bảo vệ, nên năm 1708 Mạc Cửu đã thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu để nhận được sự bảo hộ của Nhà Nguyễn và vẫn giữ nguyên các chức vụ. Từ đó vùng đất này thuộc về Việt Nam.

    Vùng đất Mỹ Tho

    Vùng đất Mỹ Tho xưa trước khi người Hoa vào khai phá là một vùng sớm được khai phá , có sông lớn tưới tiêu, có thổ nhưỡng phì nhiêu, có địa hình thuận lợi, có con người cân cù chí thú…Hơn nữa dây là vùng có một vị thế trung chuyển quan trọng bậc nhất cho các loại ghe chài to lớn từ miền tây lên Chợ Lớn (Sài Gòn) qua con kinh Bảo Định và con kinh Chợ Gạo. Sự mở mang và phát triển của Mỹ Chánh để trở thành một Mỹ Tho hiện nay, là công lao của các bật tiền nhân là là chủ yếu của Nhà Nguyễn. Như vậy trước khi người Hoa vào Nam Bộ thì vùng đất này đã được người Việt vào khai phá và mở mang đất đai, thành lập nên thôn Mỹ Chánh. Cho đến khi một nhóm người Hoa theo chân chủ tướng

    THIẾT BỊ TỰ ĐỘNG HÓA CÔNG NGHIỆP Liên hệ:

    CÔNG TY TNHH EURODODO

    Đ/C: 6/33/7/4 Đường Vườn Lài P. An Phú Đông Q.12 TP.HCM Website: EuroDodo.com

    PHÒNG KINH DOANH

    Email: kinhdoanh@eurododo.com Hotline:  0374.008.015                     

    EDUculum.com - Nguồn tài liệu miễn phí

    Email: info@educulum.com

    Theo dõi Youtube

    Chuyên mục: Đề thi | Tiểu học | Nuôi dạy con | Toán |  Văn | Anh | sinh | sử

     

gotop