• Bài văn phân tích bài thơ Thương vợ đạt điểm tuyệt đối

    Tham khảo bài văn mẫu phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương) đạt điểm gần tuyệt đối, Đề bài "Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương" và bài viết hơn 10 trang giấy vở, hãy cùng đọc bài phân tích để cảm nhận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương nhé

    Ngày đăng: 29-09-2019

    570 lượt xem

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG

        Tham khảo bài văn mẫu phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương) đạt điểm gần tuyệt đối, Đề bài "Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương" và bài viết hơn 10 trang giấy vở, hãy cùng đọc bài phân tích để cảm nhận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương nhé

    BÀI LÀM VĂN "PHÂN TÍCH BÀI THƠ THƯƠNG VỢ" CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG

        Dưới đây là bài văn mẫu phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương), phần mở bài và kết bài trong hình ảnh. Đây là bài thơ của tác giả Võ Bích Trâm (Facebook - Ẩn Danh) đạt được số điểm gần tuyệt đối trong bài kiểm tra.

    Mở bài phân tích bài thơ thương vợ tú xương

        Tác phẩm của Tú Xương bắt nguồn từ tâm huyết của nhà thơ với dân với đời thể hiện sự trào phúng và đậm chất trữ tình. Trong số đó, có lẽ “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất khi vừa nói lên nỗi thế thái nhân tình bây giờ, vừa mang lời tâm sự tràn đầy tình yêu của ông dành cho bà Tú. Chúng ta cũng đã không ít lần bắt gặp hình ảnh của bà Tú trong thơ ông như:

    “Đầu sông bến bãi đua tài buôn chín bán mười

    Trong họ ngoài làng, vung lẽ chào rơi nói thợ”

                                                                                                              (Tế sống vợ”)

    Vậy đến với “Thương vợ” bà Tú được nhà thơ khắc họa thế nào, ta sẽ cùng bước vào trong thơ ấy.

    “Quanh năm buôn bán ở mom sông,

    Nuôi đủ năm con với một chồng.

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo rèo mặt nước buổi đò đông.

    Một duyên hai nợ âu đành phận,

    Năm nắng mười mưa dám quản công.

    Cha mẹ thói đời còn ở bạc,

    Có chồng hờ hững cũng như không.”

        Nét đặc sắc của bài thơ “Thương vợ” có lẽ chính là tình cảm mà tác giả gửi gắm vào đó, một chân tình chỉ có thể mượn thơ cất lên. Và thật vậy, ở sáu câu thơ đầu tiên, hình ảnh người vợ tần tảo, người mẹ đôn hậu đầy sự hi sinh hiện ra trước mắt người đọc, đồng thời vang lên đâu đó nỗi bất lực của tác giả. Đó cũng là một nỗi đau âm ĩ trong mỗi vần thơ:

    “Quanh năm buôn bán ở mom sông,

    Nuôi đủ năm con với một chồng.”

        Ở hai câu thơ đầu, bà Tú – người phụ nữ chịu thương chịu khoc, lúc nào cũng đầu tắt mặt tối với việc buôn bán. “Quanh năm” là một chuỗi thời gian liên tiếp ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác và năm này qua năm khác mà bà Tú tất bật với gánh nặng trên vai không lúc nào ngơi nghỉ. Bà Tú bán ở “mom sông” là phần đất bờ sông nhô ra, một thể đất chênh vênh gợi một cuộc sống đầy cơ cực của người phụ nữ “nuôi đủ năm con với một chông”. Chỉ với từ “đủ” cũng gần như chấm thêm nét bút đẹp đẽ vào chân dung bà Tú. Thường thì chẳng ai đếm chồng, đếm con, bao giờ cả, thế nhưng vì muốn cất lên nỗi chua chát về một gia đình đông con lại có chồng “ăn lương vợ” mà câu thơ đã tự trào làm nên nét độc đáo cho bài thơ.

    Đến đây, hẳn có người sẽ thắc mắc vì sao Tú Xương thấu hiểu nỗi khổ của vợ mà không giúp được gì

    “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm

    Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi”

    (Tự cười mình)

        Giai đoạn này đất nước gặp bao nỗi bi thương sau khi tỉnh Nam Kỳ mất trọn vào tay Pháp, Bắc Kỳ bị tấn công lần thứ nhất. Đứng trước bối cảnh sục sôi và bi thương ông đã quyết tâm đỗ cho được cử nhân để có tiếng nói chống lại chế độ mục nát này. Thế nhưng thi tổng cộng 8 lần mà ba năm mới tổ chức một lần chỉ có đỗ Tú tài (lúc bấy giờ không còn được trọng dụng). Chính vì mãi lo học để thi cử nên ông để hết gánh nặng gia đình cho một mình bà Tú gánh vác. Nhưng không phải vì vậy mà ông vô tâm, ông để bà Tú bước vào thơ như cách thể hiện tình cảm của mình. Đến với hai câu thực, chân dung bà Tú càng rõ nét:

    “Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo rèo mặt nước buổi đò đông.”

    Nhà thơ đã vận dụng hình ảnh con cò trong câu ca dao cổ:

    “Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.”

        Kết hợp với đảo ngữ và đưa “lặn lội” lên đầu câu thơ, thay thế “con cò” bằng “thân cò” để nhấn mạnh nỗi gian truân, vất vả của bà Tú. Không chỉ vậy không gian “khi quãng vắng” gắn liền với sự gian nan, nỗi đau thân phận của bà Tú thật heo hút và chứa đầy âu lo, nguy hiểm. Từ láy tượng thanh “eo rèo” chính là âm thanh mua bán, cãi vã, bà Tú đã sống một đời lam lũ, cơ cực nơi “ mặt nước buổi đò đông”. Câu thơ bất trắc gợi nhớ về câu ca dao:

    “Con đi mẹ dặn câu này

    Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”

        Từ một người phụ nữ vốn là “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”, bà phải kiếm cái ăn đủ cho sáu người, phải bươn chải, “lặn lội” giữa sự đời, chợ đời. Từ ngữ đối lập “khi quãng vắng” và “buổi đò đông” góp phần khái quát cảnh làm ăn vất vả, cực nhọc mà đơn chiếc của bà Tú dù cho bất kì nơi đâu, vắng người hay đông người. Để từ đó ta nhìn thấy được sự thấu hiểu và tấm lòng thương cót da diết của Tú Xương với vợ.

    Nối tiếp hai câu thực chính là hai câu luận, mà ở hai câu thơ này tác giả đã bộc lộ tài năng sáng tác của mình.

    “Một duyên hai nợ âu đành phận,

    Năm nắng mười mưa dám quản công.”

        Chỉ với hai câu thơ tác giả đã vận dụng một cách xuất sắc, đối xứng hài hòa hai câu thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa” mang đậm màu sắc dân gian. “Duyên” ở đây là duyên nợ, duyên phận, còn “nợ” là “nợ đời” mà bà Tú phải gánh vác. “Duyên” rõ chỉ có một mà “nợ” có những hai nhưng bà Tú vẫn không phàn nàn, than trách mà âm thầm chịu đựng hy sinh vì chồng con. “Năm nắng mười mưa” nói lên những ngày tháng chịu thương chịu khó của bà. “Âu đành phận” và “dám quản công” ở cuối mỗi câu thơ không phải là tiếng tắc lưỡi mặc kệ sự đời, mà đó là âm thầm chịu đựng, lấy sự hy sinh làm hạnh phúc.

        Qua sáu câu thơ đầu, Tú Xương với sự cảm phục, cảm động trước sự hy sinh rất nhiều của bà Tú đã chấp bút phác họa nên hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang, chịu thương, chịu khó. Đó có lẽ là hình ảnh chung cho người phụ nữ lúc bấy giờ, cần cù tần tảo sớm tối để chăm đủ cái ăn cái mặc cho chồng con. Tú Xương đã sử dụng những hình ảnh, ngôn từ sáng tạo, ấn tượng làm nên nét đặc trưng cho riêng thơ ông.

    Nếu ở hai câu đầu Trần tế xương đưa ra hình ảnh bà Tú với nỗi vất vả, gian truân thì đến hai câu kết, hình ảnh ông tú ẩn hiện đâu đó trong từng vần thơ:

    “Cha mẹ thói đời còn ở bạc,

    Có chồng hờ hững cũng như không.”

         Tác giả đã sử dụng ngay chính từ ngữ thông tục, tiếng chửi nơi “mom sông” để đưa vào thơ thật tự nhiên, bình dị. Nhà thơ tự trách mình “ăn lương vợ”, “ăn ở bạc” với vợ, ông đặt mình ngang với “năm con” và rồi tự thấy mình chưa làm tròn vai trò của người cha kể cả người chồng. Sự “hờ hững” ấy đồng thời nói lên thói đời bạc bẽo, một xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ mà Tú Xương cảm thấy bất mãn. Chính cái xã hội “dỡ Tây dỡ ta” khiến con đường công danh thi cử của ông gặp nhiều khó khăn, trắc trở cũng là nguyên nhân sâu xa làm nên sự “hờ hững” này. Thế nhưng Tú Xương đã “tự sòng phẳng với mình, sòng phẳng với đời” để thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”. Mượn lời bà Tú để trách mình, điều đó càng nói lên tình cảm của ông dành cho bà Tú, xã hội mục nát không cho ông thể hiện thì ông chỉ có thể gửi tình cảm vào thơ với một tình yêu, một sự biết ơn, cảm phục to lớn nhất. Ở hai câu kết với việc sử dụng ngôn ngữ dân gian bình dị, gần gủi để tạo ra nét mới lạ trong thơ. Ông đã thành công gieo vào tâm thức người đọc gốc rễ sâu xa  từ hoàn cảnh riêng mà lên án thói đời bạc bẽo chung trong xã hội thời bấy giờ.

        Như vậy, với thể thơ thất ngôn bát cú đường luật kết hợp cùng ngôn ngữ bình dị đã khắc họa đạm nét vẻ đẹp tâm hồn của bà Tú nói riêng và của phụ nữ Việt Nam nói chung. Bài thơ tuy ngắn nhưng chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm kéo dài theo thời gian. Với hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm đã cho người đọc thấu hiểu phần nào tình cảm mà nhà thơ dành cho vợ, sự thương mình vì sinh bất phùng thời. Đặt bút xuống là trào cả một thời thế, đó cũng là nỗi thế thái nhân tình bao trùm cả bài thơ.

     Kết bài phân tích bài thơ thương vợ tú xương

    EDUculum.com - Nguồn tài liệu và kiến thức đa ngành

    Email: info@educulum.com

    Theo dõi Youtube

    Chuyên mục: Đề thi | Tiểu học | Nuôi dạy trẻ | Toán |  Văn | Anh | sinh | sử

    Học toán với thầy hằng tx

gotop